Nghị quyết 57-NQ/TW củng cố niềm tin xã hội vào định hướng phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia

Tóm tắt: Nghị quyết 57-NQ/TW là “kim chỉ nam” cho mô hình phát triển dựa trên tri thức và công nghệ. Theo tinh thần của Nghị quyết, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là nguồn sức mạnh quan trọng để đất nước phát triển nhanh, bền vững, tự lực tự cường. Nói cách khác, khoa học và công nghệ - đổi mới sáng tạo - chuyển đổi số được xem là “xương sống” của công cuộc hiện đại hóa, góp phần thực hiện khát vọng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng nhằm củng cố niềm tin của toàn xã hội vào sự phát triển của đất nước dựa trên phát huy tối đa vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Từ khóa: Chuyển đổi số, công nghệ, đổi mới sáng tạo, khoa học, nghị quyết
Mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang chuẩn bị mọi nguồn lực để bước vào kỷ nguyên vươn mình, khẳng định vị trí, vai trò, tầm vóc của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của khoa học và công nghệ trong sự nghiệp phát triển đất nước, ngày 22-12-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng ra đời trong bối cảnh đất nước chuẩn bị tổng kết 40 năm đổi mới (1986 - 2026).
Nội dung cơ bản của Nghị quyết số 57-NQ/TW làm rõ các quan điểm chỉ đạo, chủ trương, mục tiêu, các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ - yếu tố “đột phá” và “động lực” để phát triển toàn diện xã hội. Đây là nghị quyết quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ; nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước. Trong bối cảnh thế giới đang chuyển động mạnh mẽ dưới tác động của cuộc Cách mạng 4.0 gồm Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), internet vạn vật (IoT). Các quốc gia cũng đang chạy đua chuyển đổi số, thay đổi phương thức sản xuất và cạnh tranh toàn cầu. Thực tế đó đòi hỏi Việt Nam phải chủ động tham gia để thích ứng và không bị tụt hậu. Ngoài ra, dưới áp lực cạnh tranh và hội nhập công nghệ, chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển, thị trường toàn cầu biến động, Việt Nam cần thúc đẩy chuyển giao, làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua đổi mới sáng tạo.
Việc ban hành nghị quyết ở cấp Trung ương cho thấy quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Chính phủ trong thúc đẩy khoa học và công nghệ. Điều này tạo niềm tin cho doanh nghiệp, các nhà đầu tư, cộng đồng khoa học và toàn xã hội, rằng các chính sách hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo sẽ được duy trì lâu dài. Nghị quyết không chỉ giải quyết các vấn đề trước mắt mà còn xây dựng tầm nhìn chiến lược dài hạn về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên kinh tế số và kinh tế tri thức. Do đó, Nghị quyết 57-NQ/TW củng cố niềm tin xã hội vào định hướng phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia.
Nghiên cứu sẽ tập trung phân tích 4 hợp phần sau đây: 1) Những nội dung cốt lõi của Nghị quyết 57, bao gồm quan điểm chỉ đạo, định hướng về thể chế, nhân lực, công nghệ, mô hình hợp tác "Nhà nước - Doanh nghiệp - Đại học". 2) Những điểm đột phá từ Nghị quyết nhằm định hướng phát triển quốc gia dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. 3) Thực tế triển khai các chính sách về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong thời gian qua. 4) Niềm tin xã hội gia tăng mạnh mẽ, từ định hướng phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia của Đảng; các chiến lược, chính sách của chính phủ; triển khai trên thực tế của toàn xã hội.
Những nội dung cốt lõi của Nghị quyết 57-NQ/TW
Nghị quyết Nghị quyết 57-NQ/TW nêu rõ 5 quan điểm, 2 nhóm mục tiêu, 7 giải pháp thực hiện:
5 quan điểm trong thực hiện phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, với những điểm chủ yếu như sau:
(1) Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội.
(2) Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nhân, doanh nghiệp và Nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(3) Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu, công nghệ chiến lược là nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước.
(4) Phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; ưu tiên nguồn lực quốc gia đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Phát huy tối đa trí tuệ Việt Nam gắn với nhanh chóng tiếp thu và làm chủ thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới.
(5) Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân.
2 nhóm mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, trong đó, có một số mục tiêu cốt lõi như:
- Tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới; một số lĩnh vực khoa học, công nghệ đạt trình độ quốc tế. Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến.
- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%; tỉ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt tối thiểu 50%. Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP. Tỉ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%. Tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.
- Kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển.
- Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; có từ 40 - 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18%/năm, tỉ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10%.
- Hạ tầng công nghệ số tiên tiến, hiện đại, dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng ngang tầm các nước tiên tiến; từng bước làm chủ một số công nghệ chiến lược, công nghệ số như: Trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, bán dẫn, công nghệ lượng tử, nano, thông tin di động 5G, 6G, thông tin vệ tinh và một số công nghệ mới nổi.
- Quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trên môi trường số, kết nối và vận hành thông suốt giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hoá số đạt mức cao của thế giới. Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu.
7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ trên các lĩnh vực, gồm:
(1) Nâng cao nhận thức, đột phá về đổi mới tư duy, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(2) Khẩn trương, quyết liệt hoàn thiện thể chế; xoá bỏ mọi tư tưởng, quan niệm, rào cản đang cản trở sự phát triển; đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
(3) Tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(4) Phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(5) Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, bảo đảm quốc phòng và an ninh.
(6) Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp.
(7) Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Những điểm đột phá từ Nghị quyết 57 định hướng cho chiến lược phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia
Một là, Nghị quyết đã xác định vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là điểm đột phá có tính quyết định và phù hợp với xu hướng toàn cầu, khi các quốc gia tiên tiến đều coi đây là yếu tố quyết định để vượt qua thách thức và phát triển bền vững. Nghị quyết xác định 3 trụ cột: 1) Khoa học công nghệ; 2) Đổi mới sáng tạo; 3) Chuyển đổi số; là 3 động lực trung tâm, tạo đột phá trong phát triển kinh tế-xã hội. Trong đó: khoa học, công nghệ là nền tảng tạo ra tri thức và công cụ mới Đổi mới sáng tạo là động lực, chuyển hóa các tri thức, công cụ mới thành ý tưởng và giải pháp Chuyển đổi số là cách thức để xã hội phát triển phù hợp với xu hướng chung của thế giới. Lần đầu tiên, đổi mới sáng tạo được luật hóa và được đặt ngang hàng với khoa học và công nghệ, thể hiện sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển.
Hai là, Nghị quyết 57 nhấn mạnh sự cần thiết của chuyển đổi số quốc gia, khẳng định Việt Nam cần tận dụng cơ hội từ công nghệ số để phát triển nhanh hơn, thu hẹp khoảng cách với các quốc gia phát triển trong khu vực. Điều này thể hiện rõ trong mục tiêu “Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử…”. Từ đó, nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới, nắm bắt kịp thời các xu thế toàn cầu, như toàn cầu hóa, chuyển dịch chuỗi cung ứng và tăng cường cạnh tranh công nghệ giữa các nước. Với các mục tiêu cụ thể mà Nghị quyết đã xác định mục tiêu đến 2045 “Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số…”.
Ba là, Nghị quyết xác định rõ vai trò của nhà khoa học, coi đây là “nhân tố then chốt", từ đó đưa ra các giải pháp để thu hút, trọng dụng các nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia trong và ngoài nước. Để xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, cần tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và số hóa. Nghị quyết xác định xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và sáng tạo trong xã hội. Nghị quyết 57 đã đưa ra một tư duy đột phá: “chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo”.
Bốn là, Nghị quyết 57-NQ/TW đã chỉ ra nguyên nhân của các điểm nghẽn, từ đó đề xuất các thể chế, chính sách, khuyến khích phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Các yếu tố ưu tiên được chỉ ra bao gồm: đầu tư tài chính, phát triển nhân lực chất lượng cao, cải cách hành chính, khuyến khích hợp tác công - tư. Đây là điểm đột phá quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong đó yếu tố về tài chính là quan trọng nhất.
Thực tiễn triển khai các chính sách đột phá về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được thể hiện qua những kết quả cụ thể
Thứ nhất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã được thể hiện rõ qua 3 trụ cột sau:
- Ở trụ cột khoa học và công nghệ, các ứng dụng khoa học, công nghệ đã góp phần tạo ra năng suất lao động cao, cải thiện chất lượng tăng trưởng, thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia… Công nghệ sinh học thành công với việc tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi mới; công nghệ y tế đã đạt nhiều tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị bệnh, ghép mô tạng; công nghệ thông tin ghi dấu với sự phát triển của internet, máy tính, trí tuệ nhân tạo; công nghệ vật liệu mới như vật liệu siêu dẫn, siêu nhẹ; công nghệ năng lượng với các nguồn năng lượng sạch và hiệu quả...
- Ở trụ cột đổi mới sáng tạo, đây chính là động lực để đưa quốc gia vượt “bẫy thu nhập trung bình”, bằng cách khuyến khích phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia. Việt Nam có hệ sinh thái khởi nghiệp sôi động, với hơn 3.000 startup năm 2024, và giá trị đầu tư mạo hiểm đạt 1 tỷ USD. Các thí dụ thành công như Vingroup với xe điện VinFast hay FPT với ứng dụng AI…
- Ở trụ cột chuyển đổi số quốc gia, đây là yêu cầu cấp bách để đổi mới quản trị và phát triển kinh tế số. Chuyển đổi số giúp Việt Nam xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, năm 2024, Việt Nam xếp hạng 52/193 về Chỉ số Chính phủ điện tử (EGDI), với 80% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; Kinh tế số đạt 16% GDP. Dự báo chuyển đổi số sẽ là động lực cho tăng trưởng nhanh, giúp GDP tăng thêm 1,5-2% mỗi năm nhờ tối ưu hóa quy trình quản trị và quy trình sản xuất.
Thứ 2: Nghị quyết 57 nhấn mạnh Việt Nam tận dụng cơ hội từ khoa học - công nghệ và chuyển đổi số để bắt kịp các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Từ năm 2022 khi chính phủ triển khai Đề án 06 (phê duyệt theo Quyết định 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022) về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn 2030. Đặc biệt, sau khi Bộ chính trị Ban hành Nghị quyết 57, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số có bước phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, lan tỏa tới hầu hết các ngành, lĩnh vực và mọi mặt đời sống. Việt Nam đã hình thành rõ nét hệ sinh thái "Nhà nước - Nhà trường - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp". Chính phủ cũng ban hành Danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược và 35 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó xác định 06 sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay; ra mắt Cổng Sáng kiến khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và sàn giao dịch khoa học công nghệ. Chỉ số đổi mới sáng tạo Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu (năm 2025 xếp hạng 46/132).
Hạ tầng số đã có bước "nhảy vọt" về năng lực, công nghệ và chất lượng. Chính phủ số được đẩy mạnh; dịch vụ công trực tuyến ngày càng được hoàn thiện, chuyển từ bị động sang chủ động phục vụ người dân, doanh nghiệp dựa trên dữ liệu. Kinh tế số có bước phát triển vượt bậc, thể hiện rõ trong các tiêu chí như: Số lượng doanh nghiệp công nghệ số; kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghệ số; quy mô thương mại điện tử; thanh toán không dùng tiền mặt; công tác quản lý thuế, hóa đơn điện tử.
Thứ 3: Nghị quyết xác định rõ vai trò của nhà khoa học, coi đây là “nhân tố then chốt” của Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Để nhà khoa học thực sự là nhân tố then chốt, cần phải có các cơ chế, chính sách trọng dụng, đãi ngộ tốt hơn. Nghị quyết 57 đã nêu ra được nhiều giải pháp quan trọng, để thực hiện thì cần quan tâm đồng bộ không chỉ chế độ đãi ngộ tiền lương và thu nhập mà quan trọng hơn là tạo điều kiện làm việc và môi trường sáng tạo, tức là phải tin tưởng, đặt hàng giao nhiệm vụ cho nhà khoa học, đầu tư cơ sở vật chất tốt nhất, hợp tác quốc tế thuận lợi nhất, cho họ quyền tự chủ cao nhất về tài chính, tổ chức, nhân sự, kể cả việc cho họ được quyền thành lập và điều hành doanh nghiệp KH&CN dựa trên kết quả nghiên cứu, giúp hình thành các tập thể mạnh trong hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ.
Thứ 4: Nghị quyết 57-NQ/TW đã chỉ ra nguyên nhân của các điểm nghẽn, từ đó đề xuất các thể chế, chính sách, khuyến khích phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Trong đó, nghị quyết nhấn mạnh vào kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ. Có thể thấy Nghị quyết đã nhấn mạnh việc thu hút, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia. Cơ cấu lại nguồn ngân sách chi sự nghiệp khoa học và công nghệ bảo đảm tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải. Ngân sách chi cho nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ ưu tiên thực hiện theo cơ chế quỹ, thông qua các quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Trong đó, có cơ chế đột phá dành cho Quỹ Đầu tư mạo hiểm, loại hình đầu tư tài chính mới nhưng rất tiềm năng.
Ngày 14/10/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 264/2025/NĐ-CP quy định về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và Quỹ đầu tư mạo hiểm địa phương. Nghị định đã thể hiện tính đột phá trên nhiều phương diện, từ đối tượng, phạm vi, mô hình cho đến các chính sách cụ thể, với hai triết lý cốt lõi, đó là "đầu tư công, quản trị tư" và "dùng đầu tư công để dẫn dắt đầu tư tư". Trong quỹ đầu tư mạo hiểm, Vốn nhà nước được xác định có vai trò dẫn dắt, kích hoạt dòng vốn tư nhân tham gia đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược, khởi nghiệp sáng tạo. Điều này giúp Nhà nước chuyển từ “đầu tư trực tiếp” sang “đầu tư dẫn dắt”, tạo môi trường thuận lợi cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển.
Niềm tin xã hội gia tăng mạnh mẽ vào sự phát triển của đất nước theo hướng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số
Những điểm đột phá từ Nghị quyết 57 định hướng cho chiến lược phát triển quốc gia, thể hiện rõ qua thực tiễn triển khai các chính sách về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Niềm tin xã hội gia tăng mạnh mẽ vào định hướng phát triển dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số khi người dân nhìn rõ kết quả thực tế, cảm nhận được lợi ích trực tiếp, tin tưởng vào tính đúng đắn, lâu dài của định hướng phát triển của Đảng:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế gắn với công nghệ: Các ngành công nghệ cao, kinh tế số, startup đổi mới sáng tạo phát triển mạnh, tạo việc làm và cơ hội mới. Những kết quả đó đã chứng minh rằng hướng đi dựa vào tri thức là đúng đắn và có khả năng tạo ra giá trị dài hạn.
Thứ hai, hiệu quả của công nghệ - đổi mới – chuyển đổi số được nhìn thấy rõ trong đời sống: Người dân trực tiếp trải nghiệm các dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, tài chính số, giáo dục số, y tế số… Chất lượng và thời gian thực hiện ngày càng tiện lợi, nhanh chóng và minh bạch hơn. Khi “lợi ích cụ thể” xuất hiện, niềm tin sẽ tăng lên.
Thứ ba, mở rộng cơ hội cho mọi chủ thể: Đổi mới sáng tạo và công nghệ số tạo sân chơi rộng hơn; cho doanh nghiệp nhỏ, cá nhân, startup. Khi nhiều người có cơ hội tham gia và hưởng lợi, niềm tin xã hội lan tỏa mạnh. Đặc biệt, từ Nghị quyết 57-NQ/TW, Bộ Chính trị coi các chuyên gia, trí thức, doanh nghiệp là nguồn lực cốt lõi để phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết 57-NQ/TW thúc đẩy cơ chế đặc thù, thu hút kiều bào về nước làm việc, cống hiến và kết nối toàn cầu.
Thứ tư, tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích các nhà khoa học mạnh dạn tham gia các nhiệm vụ nghiên cứu có sử dụng ngân sách nhà nước. Việc chấp nhận rủi ro giúp các nhà khoa học yên tâm hơn trong quá trình nghiên cứu, bởi trong trường hợp thất bại do yếu tố khách quan, họ có thể được xem xét miễn trừ trách nhiệm. Đó cũng là kinh nghiệm quý báu, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong tương lai.
Thứ năm, khẳng định vai trò dẫn dắt rõ ràng của Nhà nước: Từ Nghị quyết 57-NQ/TW, các chính sách ngày càng nhấn mạnh khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực trung tâm (ví dụ như việc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, khuyến khích đầu tư mạo hiểm). Khi định hướng nhất quán, xã hội có cơ sở để tin tưởng và các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước.
Thứ sáu, nâng cao tính minh bạch và quản trị: Chuyển đổi số giúp giảm thủ tục rườm rà, hạn chế tiêu cực, tăng công khai dữ liệu. Khi hệ thống quản trị vận hành tốt hơn và trơn tru hơn, niềm tin của người dân vào hệ thống chính trị được củng cố.
Thứ bảy, hội nhập và bắt kịp xu thế toàn cầu: Thế giới đang chuyển sang nền kinh tế số và kinh tế tri thức. Khi Việt Nam đi cùng xu thế này, người dân và doanh nghiệp tin rằng đất nước không bị tụt hậu mà đang “đi đúng dòng chảy”. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là xu thế tất yếu, đòi hỏi khách quan, sự lựa chọn mang tính chiến lược và ưu tiên hàng đầu; tạo động lực trong phát triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia.
Nghị quyết 57 có thể xem là “Nghị quyết giải phóng tư duy khoa học” ,“Nghị quyết để thực hiện các Nghị quyết”, “Nghị quyết của hành động” với những mục tiêu cụ thể, đổi mới cách nghĩ, cách làm, nhằm hiện thực hóa chủ trương, xóa bỏ rào cản, giải phóng năng lực để thúc đẩy đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng phát triển mạnh mẽ đất nước trong thời kỳ mới. Việc đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ đang tạo ra các giá trị mới, thúc đẩy sự tin tưởng của toàn dân vào khả năng bứt phá của đất nước trong tương lai.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị. 2024. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ. 2024. Báo cáo năm 2024.
TS. Trần Thùy Phương
Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi