image banner
Ấn Độ và Việt Nam qua chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu 2026: thành tựu, giới hạn và dư địa bổ trợ
Ngày 29/9/2026, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026, xếp hạng 139 nền kinh tế. Ấn Độ giữ vị trí thứ 38, Việt Nam tăng một bậc lên vị trí thứ 43. Hai nước cùng có kết quả đổi mới sáng tạo vượt trình độ phát triển trong 16 năm liên tiếp, nhưng đi theo hai mô hình khác nhau, mỗi mô hình có giới hạn riêng và có khả năng bổ trợ cho nhau.
Anh-tin-bai

1. Bối cảnh đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026

GII 2026 cho thấy đầu tư cho đổi mới sáng tạo trên thế giới phục hồi nhưng phân hóa rõ rệt. Theo WIPO, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) toàn cầu tăng hơn 3,3% trong năm 2025 (tính theo giá thực tế) và dự báo tăng 3,6% trong năm 2026, đạt khoảng 3.400 tỷ USD (WIPO, 2026b). Đáng chú ý, mức tăng ngày càng đến nhiều hơn từ các nền kinh tế thu nhập trung bình, trong đó WIPO nêu tên Ai Cập, Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Chi tiêu R&D của các doanh nghiệp đầu tư lớn nhất thế giới đạt mức kỷ lục 1.500 tỷ USD, tăng 5,8%, chủ yếu nhờ các lĩnh vực phần mềm, trí tuệ nhân tạo (AI) và quốc phòng (WIPO, 2026b).

Vốn đầu tư mạo hiểm năm 2025 tăng 28%, đạt 510 tỷ USD, mức tăng mạnh nhất kể từ năm 2021. Tuy nhiên, dòng vốn này tập trung cao độ: AI chiếm 53% tổng giá trị thương vụ năm 2025 và 77% trong nửa đầu năm 2026. Trong khi đó, số lượng thương vụ giảm năm thứ tư liên tiếp. Như vậy, vốn ngày càng dồn vào ít thương vụ lớn hơn, chủ yếu trong lĩnh vực AI (WIPO, 2026b).

Chủ đề đặc biệt của GII 2026 là khởi nghiệp dựa trên khoa học chuyên sâu (deep science). Từ năm 2000 đến nay đã có hơn 30.000 doanh nghiệp khởi nghiệp loại này ra đời, với tổng giá trị 7.600 tỷ USD. Trong giai đoạn từ năm 2020, khu vực Trung và Nam Á, nơi Ấn Độ giữ vai trò chủ đạo, có tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp khoa học chuyên sâu nhanh nhất thế giới (118%). Ấn Độ cũng nằm trong nhóm nền kinh tế thu nhập trung bình dẫn đầu về loại hình doanh nghiệp này (WIPO, 2026a, 2026b).

Ở nhóm dẫn đầu bảng xếp hạng, Thụy Sĩ giữ vị trí thứ nhất năm thứ 16 liên tiếp, tiếp theo là Thụy Điển, Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Singapore. Trung Quốc đứng thứ 10 và là nền kinh tế thu nhập trung bình duy nhất trong nhóm 10 nước dẫn đầu (WIPO, 2026b).

2. Vị trí của Ấn Độ và Việt Nam: cùng tăng hạng nhưng khác động lực

Ấn Độ xếp thứ 38, đứng đầu nhóm 36 nền kinh tế thu nhập trung bình thấp và đứng đầu khu vực Trung và Nam Á. Việt Nam xếp thứ 43, đứng thứ hai trong nhóm thu nhập trung bình thấp (sau Ấn Độ) và thứ 9/17 trong khu vực Đông Nam Á, Đông Á và châu Đại Dương. WIPO xếp cả hai nước vào nhóm bảy nền kinh tế thu nhập trung bình tăng hạng nhanh nhất kể từ năm 2013, cùng với Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Morocco và Indonesia (WIPO, 2026a, 2026c, 2026d).

Diễn biến xếp hạng chung của hai nước trong 7 năm gần đây được thể hiện ở Bảng 1.

Bảng 1. Xếp hạng chung GII của Ấn Độ và Việt Nam, 2020–2026

Năm

Ấn Độ

Việt Nam

2020

48

42

2021

46

44

2022

40

48

2023

40

46

2024

39

44

2025

38

44

2026

38

43

Nguồn: WIPO (2026c, 2026d). Số càng nhỏ, thứ hạng càng cao

Trong năm 2026, Ấn Độ cải thiện cả hai nhóm chỉ số: đầu vào tăng 3 bậc, đầu ra tăng tới 7 bậc (từ 32 lên 25). Việt Nam có đầu ra tăng 2 bậc (từ 37 lên 35) nhưng đầu vào giảm 4 bậc (từ 50 xuống 54). Như vậy, mức tăng một bậc của Việt Nam hoàn toàn nhờ đầu ra, trong khi các điều kiện nền tảng cho đổi mới sáng tạo lại suy giảm. Cũng cần lưu ý rằng WIPO công bố khoảng tin cậy thống kê của thứ hạng Việt Nam là từ 40 đến 45, của Ấn Độ là từ 34 đến 39. Vì vậy, biến động một bậc nên được xem là ổn định vị trí, chưa phải bước tiến có ý nghĩa thống kê (WIPO, 2026c, 2026d).

3. Hai mô hình đổi mới sáng tạo

Bảng 2. Thứ hạng bảy trụ cột GII 2026

Trụ cột

Ấn Độ

Việt Nam

Thể chế (đầu vào)

60

64

Vốn con người và nghiên cứu (đầu vào)

54

79

Cơ sở hạ tầng (đầu vào)

62

59

Trình độ phát triển thị trường (đầu vào)

35

43

Trình độ phát triển kinh doanh (đầu vào)

63

48

Sản phẩm tri thức và công nghệ (đầu ra)

15

35

Sản phẩm sáng tạo (đầu ra)

43

35

Nguồn: WIPO (2026c, 2026d)

Ấn Độ mạnh nhất ở trụ cột sản phẩm tri thức và công nghệ (hạng 15). Ấn Độ đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ công nghệ thông tin, xếp hạng 3 về quy mô thị trường nội địa, hạng 4 về số thương vụ đầu tư mạo hiểm giai đoạn sau (đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp đã có doanh thu, đang mở rộng) và có 4 cụm đổi mới sáng tạo trong nhóm 100 cụm hàng đầu thế giới, dẫn đầu là Bengaluru (hạng 25). Mô hình của Ấn Độ dựa trên thị trường lớn, hệ sinh thái khởi nghiệp và dịch vụ tri thức. Điểm yếu của Ấn Độ nằm ở nguồn lực nền tảng: số nhà nghiên cứu trên một triệu dân (hạng 83), tỷ lệ việc làm đòi hỏi trình độ cao (hạng 98) và dòng vốn FDI (hạng 108) (WIPO, 2026c).

Việt Nam tiếp tục đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và xuất khẩu hàng hóa sáng tạo; xếp hạng cao về tạo lập ứng dụng di động (hạng 5) và tỷ lệ R&D do doanh nghiệp tài trợ (hạng 13). Tuy nhiên, Việt Nam đồng thời đứng thứ 3 về nhập khẩu công nghệ cao, cho thấy phần lớn giá trị hàng xuất khẩu đến từ linh kiện nhập khẩu, giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế. WIPO cũng nhận định Việt Nam tiến bộ nhờ sản xuất công nghệ cao và thương mại, nhưng còn đi sau về năng lực sáng chế trong nước (WIPO, 2026a, 2026d).

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam là trụ cột vốn con người và nghiên cứu (hạng 79). Việt Nam xếp hạng thấp về số bài báo khoa học so với GDP (hạng 106), chi tiêu cho giáo dục (hạng 112), nguồn thu từ quyền sở hữu trí tuệ (hạng 110) và tỷ lệ việc làm đòi hỏi trình độ cao (hạng 100); chưa có cụm đổi mới sáng tạo nào trong nhóm 100 cụm hàng đầu (WIPO, 2026d). Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cũng nhấn mạnh Việt Nam cần đẩy mạnh công bố khoa học quốc tế và gia tăng số lượng bằng sáng chế (Báo Đấu thầu, 2026; Báo Đại biểu Nhân dân, 2026).

4. Nguy cơ “trần kính đổi mới sáng tạo” đối với các nền kinh tế thu nhập trung bình

Một phát hiện quan trọng của GII 2026 là phần lớn các nền kinh tế thu nhập trung bình đang đối mặt với “trần kính đổi mới sáng tạo” (innovation glass ceiling). Nguyên nhân là nền tảng nghiên cứu và R&D còn mỏng, khiến các nước này khó tiến lên nhóm dẫn đầu dù đã tăng hạng nhanh trong giai đoạn trước. Trung Quốc là trường hợp vượt qua được giới hạn này: đứng thứ 5 về đầu ra và đạt mức của các nền kinh tế thu nhập cao ở 21 trên 25 chỉ số được đối chiếu (WIPO, 2026a).

Ấn Độ (đầu vào 49, đầu ra 25) và Việt Nam (đầu vào 54, đầu ra 35) đều có khoảng cách lớn giữa đầu vào và đầu ra. Khoảng cách này chứng tỏ hai nước sử dụng nguồn lực khá hiệu quả. Nhưng nó cũng đặt ra câu hỏi về tính bền vững: nếu đầu vào, đặc biệt là vốn con người và năng lực nghiên cứu, không được cải thiện tương xứng, thì dư địa tăng hạng nhờ hiệu quả sẽ dần thu hẹp. Với Việt Nam, việc đầu vào giảm 4 bậc trong năm 2026 là tín hiệu cần được quan tâm. Mục tiêu vào nhóm 40 nền kinh tế dẫn đầu năm 2030 và nhóm 30 năm 2045 khó đạt được nếu chỉ dựa vào lợi thế sản xuất và xuất khẩu (Thủ tướng Chính phủ, 2022; Bộ Chính trị, 2024).

5. Dư địa bổ trợ trong hợp tác Việt Nam – Ấn Độ

Khi đặt điểm mạnh và điểm yếu của Việt Nam và Ấn Độ cạnh nhau, có thể thấy nhiều cặp chỉ số mang tính “đối xứng”:

·      Ấn Độ đứng đầu thế giới về xuất khẩu dịch vụ công nghệ thông tin – truyền thông. Việt Nam mạnh về xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao nhưng yếu về dịch vụ tri thức.

·      Ấn Độ xếp hạng 12 về xuất khẩu dịch vụ văn hóa – sáng tạo, Việt Nam xếp hạng 96. Ngược lại, Việt Nam đứng đầu về xuất khẩu hàng hóa sáng tạo.

·      Việt Nam thu hút hiệu quả vốn FDI và có mức thuế quan áp dụng thấp (hạng 15). Ấn Độ yếu ở cả hai chỉ số này (hạng 108 và 110) (WIPO, 2026c, 2026d).

·      Ấn Độ có hệ sinh thái vốn khởi nghiệp phát triển (hạng 4 và 8). Đây là khâu còn hạn chế của Việt Nam.

Hai nước cũng có chung một số điểm yếu: tỷ lệ việc làm thâm dụng tri thức (Ấn Độ hạng 98, Việt Nam hạng 100), tỷ lệ sinh viên quốc tế đến học (115 và 111), tỷ lệ học sinh trên giáo viên bậc trung học (98 và 106) (WIPO, 2026c, 2026d).

Từ những phân tích trên, có thể nêu một số gợi mở:

Thứ nhất, kết hợp lợi thế sản xuất của Việt Nam với năng lực dịch vụ số của Ấn Độ. Doanh nghiệp công nghệ thông tin Ấn Độ có thể tham gia nâng cao hàm lượng phần mềm, thiết kế và dịch vụ số trong các ngành sản xuất của Việt Nam. Đây là một hướng để nâng giá trị gia tăng trong nước, thay vì chủ yếu lắp ráp.

Thứ hai, hợp tác về khởi nghiệp khoa học chuyên sâu và đầu tư mạo hiểm. Kinh nghiệm của Ấn Độ trong tài trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp, hình thành các cụm đổi mới sáng tạo như Bengaluru, cùng tốc độ tăng nhanh của doanh nghiệp khoa học chuyên sâu trong khu vực, là nguồn tham khảo phù hợp cho Việt Nam trong việc xây dựng cụm đổi mới sáng tạo đầu tiên đạt tầm quốc tế.

Thứ ba, cùng giải quyết điểm yếu chung về nhân lực tri thức. Trao đổi sinh viên, học giả, đào tạo sau đại học và nghiên cứu chung có thể đồng thời cải thiện các chỉ số về di chuyển học thuật, công bố khoa học và việc làm thâm dụng tri thức của cả hai nước. Các chương trình hiện có như học bổng ITEC là nền tảng có thể mở rộng.

Thứ tư, đối thoại chính sách về sử dụng GII như công cụ quản trị. Cả Việt Nam và Ấn Độ đều dùng GII để phân công trách nhiệm cải thiện từng chỉ số. Hai nước có thể chia sẻ kinh nghiệm trong việc cải thiện các chỉ số đầu vào, nhất là trụ cột vốn con người và nghiên cứu.

GII 2026 khẳng định Ấn Độ và Việt Nam là hai trong những nền kinh tế đang lên nổi bật nhất của nhóm thu nhập trung bình. Tuy nhiên, kết quả này cũng cho thấy giới hạn của cách tiếp cận dựa vào hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đối với Việt Nam, trọng tâm của giai đoạn tới là tăng đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu và năng lực sáng chế trong nước, để các lợi thế về sản xuất và thương mại được chuyển hóa thành năng lực đổi mới sáng tạo nội sinh. Trong quá trình đó, quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường Việt Nam – Ấn Độ có thể trở thành một kênh hợp tác thực chất, dựa trên chính các thế mạnh bổ trợ mà GII 2026 đã chỉ ra. Đây có thể trở thành cơ sở cho hợp tác thực chất về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần thực hiện mục tiêu của Nghị quyết 57-NQ/TW mà Chính phủ Việt Nam đã đặt ra.

Tài liệu tham khảo

1. Báo Đại biểu Nhân dân (2026), "Dấu ấn Việt Nam trên bản đồ đổi mới sáng tạo toàn cầu", https://daibieunhandan.vn/dau-an-viet-nam-tren-ban-do-doi-moi-sang-tao-toan-cau-10432601.html

2. Báo Đấu thầu (2026), "Việt Nam tăng bậc về chỉ số đổi mới sáng tạo, xếp thứ 43/139 quốc gia, nền kinh tế", https://baodauthau.vn/viet-nam-tang-bac-ve-chi-so-doi-moi-sang-tao-xep-thu-43139-quoc-gia-nen-kinh-te-post208790.html

3. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

4. Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.

5. WIPO (2026a), Global Innovation Index 2026: GII 2026 at a glance, https://www.wipo.int/web-publications/global-innovation-index-2026/en/gii-2026-at-a-glance.html

6. WIPO (2026b), "WIPO Global Innovation Index 2026: Switzerland, Sweden, US, Republic of Korea and Singapore Top Ranking; AI Reshaping Innovation Investments as Deep Science Startups Top $7.6 Trillion", https://www.wipo.int/pressroom/en/articles/2026/article_0014.html

7. WIPO (2026c), India ranking in the Global Innovation Index 2026, https://www.wipo.int/edocs/gii-ranking/2026/in.pdf

8. WIPO (2026d), Viet Nam ranking in the Global Innovation Index 2026, https://www.wipo.int/edocs/gii-ranking/2026/vn.pdf

ThS/NCS. Nguyễn Thị Hiên

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

VIỆN NGHIÊN CỨU NAM Á, TÂY Á VÀ CHÂU PHI

Địa chỉ: Tầng 12-13, 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Điện thoại: 84.4.3762 5684 - Fax: 84.4.38326653

Email: web.isawaas@gmail.com

Bản quyền thuộc về Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi

Website được thiết kế bởi VNPT