"Tự chủ chiến lược" của Việt Nam - Ấn Độ trong một thế giới biến động
Hà Nội, ngày 27/8/2026 – Ngay sau phiên khai mạc, Hội thảo khoa học quốc tế "Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường Việt Nam - Ấn Độ: Hướng tới những động lực phát triển mới" đã bước vào Phiên 1 với chủ đề "Hội tụ chiến lược trong quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường Việt Nam - Ấn Độ", dưới sự điều hành của Ông Sabyasachi Dutta, Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu Asian Confluence (Ấn Độ).
Góc nhìn Ấn Độ: từ tin tưởng chính trị đến chuỗi cung ứng
toàn cầu
Đại sứ, TS. Ranjit Rae,
Nguyên Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam, cho rằng "Tăng cường" nghĩa là hợp
tác mạnh mẽ hơn trong 30 năm tới từ trí tuệ nhân tạo, hạ tầng số, công nghệ hạt
nhân đến khoáng sản thiết yếu trong bối cảnh thế giới đối mặt căng thẳng thuế
quan và xu thế toàn cầu hóa suy giảm. Ông nhấn mạnh nền tảng của quan hệ song
phương là tin tưởng chính trị, với cơ chế Đối thoại 2+2 (Ngoại giao - Quốc
phòng) đóng vai trò then chốt. Về kinh tế, ông dẫn chứng các dự án chiến lược
khai thác dầu khí ngoài khơi, sáng kiến của Tập đoàn Tata, nhà máy VinFast tại
Tamil Nadu như minh chứng Việt Nam đang trở thành mắt xích quan trọng trong
chuỗi cung ứng toàn cầu, hướng tới mục tiêu thương mại 25 tỷ USD. Ông cũng nhấn
mạnh tiềm năng kết nối Đông Bắc Ấn Độ với tiểu vùng Mekong, cả hạ tầng lẫn văn
hóa, và bày tỏ kỳ vọng năm tới kỷ niệm 55 năm quan hệ ngoại giao sẽ có thêm
chuyến thăm cấp cao tiếp nối chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
hồi tháng 5 vừa qua.

Chủ tọa và các diễn giả tham
gia phiên thứ nhất. Ảnh: Tuấn Anh
Ngoại giao "cây tre" linh hoạt của Việt Nam trước
cạnh tranh nước lớn
Trình bày tham luận "Sự
hội tụ chiến lược giữa Việt Nam và Ấn Độ trong thế giới biến động", TS.
Phan Cao Nhật Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi
(ISAWAAS), điểm lại các giai đoạn biến động của trật tự thế giới từ sau Thế
chiến II đến nay từ Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ, đến xung đột
Nga - Ukraine hiện tại và cho rằng cạnh tranh Mỹ - Trung ngày nay mang tính
"cùng tồn tại và cạnh tranh" trong dài hạn, tinh vi hơn thời Chiến
tranh Lạnh.
Trong bối cảnh đó, Ấn Độ theo
đuổi chính sách "đa liên kết" (multi-alignment) không bị ràng buộc
bởi liên minh cứng nhắc còn Việt Nam kiên định chính sách "Bốn không"
và "ngoại giao cây tre": gốc rễ vững, thân chắc, cành lá mềm dẻo. TS.
Phan Cao Nhật Anh nhấn mạnh: dù xuất phát từ hai truyền thống khác nhau, cả hai
nước đều thực hành cùng một logic tự chủ chiến lược không chọn phe, giữ cân
bằng với các nước lớn. Ông dẫn số liệu cho thấy thương mại song phương đã hơn
gấp đôi trong một thập kỷ, từ 8 tỷ USD (2015-2016) lên 16 tỷ USD (2024-2025),
với mục tiêu 25 tỷ USD vào năm 2030, đồng thời khẳng định lập trường hai nước
về tự do hàng hải tại Biển Đông trên cơ sở UNCLOS 1982.
Đối
tác chiến lược toàn diện tăng cường: đặc điểm của một "trạng thái phát
triển cao"
Từ góc độ lý luận, PGS.TS.
Phạm Văn Linh, Nguyên Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, chỉ ra 5 đặc điểm
cốt lõi của khuôn khổ "Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường" khuôn
khổ mà Việt Nam hiện chỉ dành riêng cho Ấn Độ trong số 14 đối tác chiến lược
toàn diện: tin cậy chính trị - chiến lược ở mức rất cao; hợp tác toàn diện với
các lĩnh vực trụ cột; gắn kết lợi ích lâu dài; tính thực chất; và khả năng ứng
phó với thách thức của "kỷ nguyên mới". Ông cho rằng chữ "tăng
cường" là chuyển từ quan hệ rộng về phạm vi sang sâu về nội dung và hiệu
quả thực tiễn trong đó quốc phòng đã trở thành trụ cột thực chất, được định
hướng bởi Tuyên bố Tầm nhìn chung về Đối tác Quốc phòng đến năm 2030. Ông đề
xuất 4 định hướng cho giai đoạn tới: củng cố tin cậy chính trị qua trao đổi
đoàn cấp cao; tạo đột phá kinh tế ở công nghệ số, AI, năng lượng sạch; tăng kết
nối viện nghiên cứu - trường đại học - doanh nghiệp; và phối hợp chặt chẽ hơn
tại các diễn đàn đa phương, đặc biệt ASEAN.
Tin cậy chính trị: "tài sản vô giá" và bài toán
chuyển từ cam kết sang thực thi
Tham gia bình luận, PGS.TS.
Lê Bộ Lĩnh, Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, và Đại sứ, TS. Tôn Sinh
Thành, Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ, đưa ra những đánh giá sâu từ thực tiễn
đối ngoại và lập pháp. Đại sứ Tôn Sinh Thành nhấn mạnh "sự tin cậy chính
trị" chính là tài sản vô giá và khác biệt nhất trong quan hệ song phương
điều kiện tiên quyết để mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực chiến lược như công
nghệ cao, bán dẫn, vũ trụ. Tuy nhiên, PGS.TS. Lê Bộ Lĩnh thẳng thắn chỉ ra: nút
thắt lớn nhất hiện nay không nằm ở cam kết cấp cao, mà ở khâu thực thi với các
rào cản về thủ tục hành chính, khác biệt thể chế - pháp lý, thiếu thông tin
doanh nghiệp và hạn chế hạ tầng kết nối.

Đại sứ,
TS. Tôn Sinh Thành, Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ. Ảnh: Tuấn Anh
Tiếp nối các định hướng của
PGS.TS. Phạm Văn Linh, PGS.TS. Lê Bộ Lĩnh cụ thể hóa thành 5 nhóm giải pháp:
(1) đổi mới khung pháp lý, rà soát hiện đại hóa AITIGA; (2) mở rộng hợp tác
công nghệ tương lai AI, vũ trụ, bán dẫn, năng lượng sạch, an ninh mạng; (3) tối
ưu hạ tầng kết nối đường bay trực tiếp, hạ tầng số, thanh toán song phương; (4)
nâng tầm hợp tác tri thức giữa viện nghiên cứu, trường đại học hai nước; và (5)
cụ thể hóa cơ chế đôn đốc, giám sát thông qua Ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Ấn Độ.

PGS.TS. Lê Bộ Lĩnh, Nguyên
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Phó Tổng Thư ký Quốc hội khóa XIV. Ảnh: Tuấn
Anh
Phiên 1 khép lại với một điểm
đồng thuận rõ nét: hội tụ chiến lược Việt Nam - Ấn Độ không phải là một liên
minh hình thành từ đối trọng với bên thứ ba, mà là kết quả của hai nền ngoại
giao tự chủ, chủ động và linh hoạt cùng nhận ra lợi ích chung ngày càng lớn
trong một thế giới đa cực, bất định và bài toán còn lại là chuyển hóa sự hội tụ
đó thành kết quả đo lường được.
Nguyễn
Thị Hiên - Đồng Thị Thùy Linh
Trung
tâm Nghiên cứu Ấn Độ
Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu
Phi