image banner
Hợp tác thanh niên, đối tác tri thức và kết nối văn hóa: Nền tảng bền vững cho quan hệ Việt Nam - Ấn Độ

Tiếp theo chuỗi ba phiên của Hội thảo khoa học quốc tế "Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường Việt Nam - Ấn Độ: Hướng tới những động lực phát triển mới" là phiên chuyên đề "Hợp tác thanh niên, đối tác tri thức và kết nối văn hóa", do Đại sứ, TS. Ranjit Rae, nguyên Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam, điều hành. Nhiều chủ đề được đề cập, từ những tháp cổ Mỹ Sơn đang được phục dựng, hàng trăm suất học bổng mỗi năm, đến một bộ phim truyền hình từng làm mưa làm gió tại Việt Nam suốt ba năm. Phiên thảo luận cho thấy, bên cạnh những con số thương mại và đầu tư ở hai phiên trước, chính di sản, tri thức và văn hóa mới là nền tảng bền vững gắn kết hai dân tộc.

Chủ tọa và các diễn giả tham gia phiên thứ ba. Ảnh: Tuấn Anh

"Ngoại giao Cây Bồ Đề" kết nối văn hóa hơn 2.000 năm giữa Việt Nam - Ấn Độ"

Trình bày tham luận "Những động lực quyền lực mềm trong quan hệ Việt Nam - Ấn Độ: Thanh niên, Giáo dục và Di sản", TS. Nguyễn Trần Tiến, Phó Trưởng khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho rằng trong giai đoạn phát triển mới của quan hệ song phương, việc củng cố lòng tin chiến lược không thể chỉ dựa vào các trụ cột truyền thống như an ninh, quốc phòng, thương mại, mà ngày càng cần phát huy vai trò của sức mạnh mềm và ngoại giao nhân dân thứ được bồi đắp từ hơn hai nghìn năm giao lưu văn hóa, tôn giáo và tri thức giữa hai dân tộc.

Ông phân tích ba trụ cột. Kết nối di sản văn hóa, Phật giáo được xem là cầu nối lâu đời và có sức lan tỏa sâu rộng nhất, hình thành từ khoảng hai nghìn năm trước qua các tuyến thương mại hàng hải; trong thời hiện đại, "ngoại giao Cây Bồ Đề" tiếp tục được thúc đẩy qua các chuyến thăm cấp cao, hoạt động trao tặng cây Bồ đề và giao lưu Phật giáo, mà một minh chứng cụ thể là sự hỗ trợ của Ấn Độ trong bảo tồn, trùng tu Khu đền tháp Mỹ Sơn. Đối tác tri thức, theo TS. Nguyễn Trần Tiến, đây là nền tảng quan trọng tạo tính bền vững cho quan hệ song phương. Thông qua các chương trình ITEC, ICCR và học bổng trong khuôn khổ Hợp tác Mekong - Sông Hằng, đến năm 2025 đã có ít nhất 1.000 cựu học viên các chương trình học bổng của Chính phủ Ấn Độ đang làm việc tại các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và tổ chức Phật giáo tại Việt Nam; hơn 5.000 người Việt Nam đã tham gia các chương trình đào tạo dài hạn hoặc ngắn hạn tại Ấn Độ trong nhiều thập niên qua. Hợp tác thanh niên, được ông xem là lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt với tương lai quan hệ song phương, vì đây là kênh đưa quan hệ từ cấp chính phủ xuống cấp độ xã hội, giúp thế hệ trẻ trực tiếp tiếp xúc với văn hóa, con người nước đối tác qua các chương trình trao đổi thanh niên, yoga, văn hóa đại chúng và thể thao.

Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra một số hạn chế còn tồn đọng, sức hấp dẫn văn hóa Ấn Độ với giới trẻ Việt Nam đang cạnh tranh với các xu hướng từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, quy mô học bổng và trao đổi giáo dục vẫn còn tương đối hạn chế. Ông cho rằng Ấn Độ cần quảng bá mạnh hơn hình ảnh một quốc gia hiện đại, đặc biệt về công nghệ thông tin và công nghệ cao. Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng cần giới thiệu nhiều hơn về thành tựu phát triển kinh tế, đổi mới sáng tạo thay vì chỉ nhấn mạnh các mối liên hệ lịch sử.

Từ "hội tụ chiến lược" sang "triển khai lấy người dân làm trung tâm"

Ông Sabyasachi Dutta, Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu Asian Confluence, cho rằng vấn đề quan trọng nhất của giai đoạn tới không phải là xây dựng thêm khuôn khổ hay ký kết thêm biên bản ghi nhớ, mà là chuyển mạnh từ "hội tụ chiến lược" sang "triển khai lấy người dân làm trung tâm" biến các cam kết cấp cao thành chương trình cụ thể, tạo lợi ích trực tiếp cho người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Về hợp tác thanh niên, ông chỉ ra một khoảng trống đáng chú ý, hai nước hiện chưa có cơ chế riêng về di chuyển thanh niên, cũng như chưa có đầy đủ chương trình thực tập, công nhận trình độ nghề nghiệp và đào tạo chung. Ông đề xuất thiết lập các chương trình trao đổi cho chuyên gia trẻ kết hợp thực tập, khởi nghiệp và học bổng đưa hợp tác nhân dân tiến thêm một bước, từ giao lưu mang tính biểu tượng sang tạo sinh kế và cơ hội nghề nghiệp thực chất. Trong đối tác tri thức, ông nhấn mạnh tiềm năng ở các công nghệ mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, công nghệ sinh học riêng ngành bán dẫn, thế mạnh bổ sung giữa hai nước có thể tạo dư địa cho các chương trình đào tạo chung về đóng gói, lắp ráp và kiểm thử chip, ông đề xuất mô hình trao đổi thanh niên kết hợp kỹ năng bán dẫn với khoa học di sản.

Một nội dung được ông dành nhiều sự quan tâm là vai trò của vùng Đông Bắc Ấn Độ như hành lang kết nối mới, ông dẫn một so sánh đáng chú ý rằng xét về khoảng cách địa lý, Guwahati gần Hà Nội tương đương khoảng cách từ Guwahati tới New Delhi. Ông đề xuất phát triển tại khu vực này các chương trình về du lịch cộng đồng, du lịch Phật giáo, nông nghiệp - chế biến thực phẩm, kinh tế tuần hoàn và năng lượng sạch, biến nơi đây thành nền tảng để thanh niên hai nước cùng tham gia phát triển sinh kế. Về du lịch nói chung, ông lưu ý sự mất cân đối trong dòng khách hai chiều (lượng khách Ấn Độ đến Việt Nam vượt trội so với chiều ngược lại), đồng thời đề xuất khai thác tốt hơn các giá trị di sản chung Phật giáo, di sản Chăm kết hợp cải thiện hạ tầng, biển chỉ dẫn và cảm nhận an toàn cho du khách. Ông cũng nhấn mạnh tiềm năng kinh tế sáng tạo từ số hóa văn hóa Chăm, bảo tồn Mỹ Sơn và nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn nơi hai nước có thể trở thành đối tác tri thức cùng gìn giữ di sản chung, thay vì đơn thuần trao đổi lợi ích.

Ông Dutta cho rằng khoảng cách lớn nhất hiện nay nằm ở khâu thực thi, và đề xuất bốn hướng ưu tiên gồm: mở rộng cơ hội di chuyển, trao đổi cho thanh niên và phụ nữ; xây dựng chương trình đào tạo kỹ năng trong bán dẫn, AI, du lịch và khoa học di sản; phát huy Đông Bắc Ấn Độ như cửa ngõ kết nối cộng đồng, sinh kế; và tăng cường vai trò của các viện nghiên cứu, tổ chức tư vấn trong triển khai thí điểm, khảo sát và phản hồi chính sách.

Đưa thế hệ trẻ vào trung tâm ngoại giao nhân dân

Tham gia bình luận, Ông Lê Trung Hiếu, Phó Trưởng ban Châu Á, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO), đánh giá cao việc Hội thảo nhấn mạnh vai trò của giao lưu nhân dân, đồng thời chỉ ra một thực tế đáng suy ngẫm, thành phần tham gia phần lớn các chương trình, diễn đàn giao lưu Việt Nam - Ấn Độ hiện vẫn chủ yếu là người trung niên, cao tuổi, trong khi sự hiện diện của thanh niên, sinh viên còn hạn chế cần thêm cơ chế cụ thể để thu hút giới trẻ, tạo nền tảng xã hội lâu dài cho quan hệ hai nước. Về du lịch, ông cho rằng cần nghiên cứu sâu hơn về cơ cấu khách (tỷ lệ người trẻ, sở thích, loại hình du lịch) để xây dựng sản phẩm phù hợp hơn.

Ông Lê Trung Hiếu, Phó Trưởng ban Châu Á, 
Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO). Ảnh: Tuấn Anh

Nhìn lại các dấu ấn cụ thể của ngoại giao nhân dân thời gian qua, ông nhắc tới "ngoại giao y tế" trong đại dịch COVID-19 khi Việt Nam gửi máy tạo oxy, khẩu trang hỗ trợ Ấn Độ, và Ấn Độ ưu tiên cung cấp vaccine cho Việt Nam trong giai đoạn khó khăn nhất. Cùng sự lan tỏa của Ngày Quốc tế Yoga, và xu hướng nhiều gia đình, ngôi sao Ấn Độ chọn Phú Quốc, Đà Nẵng, Hạ Long tổ chức đám cưới quy mô lớn, góp phần lan tỏa hình ảnh Việt Nam. Ông cho biết thời gian tới, ngoại giao nhân dân cần tiếp tục được phát huy, trong đó có việc đưa lễ hội, hoạt động văn hóa Việt Nam đến các địa phương của Ấn Độ để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

Từ "kết nối tri thức" sang "đồng sáng tạo tri thức"

Cũng tham gia bình luận, Ông Vaibhav Saxena, Cố vấn pháp lý cao cấp tại Công ty Luật Quốc tế Việt Nam VILAF, bày tỏ đồng tình với yêu cầu chú trọng hơn đến thế hệ trẻ đặc biệt là Gen Z trong giai đoạn phát triển tiếp theo của quan hệ song phương. Ông cho rằng vấn đề đặt ra hiện nay không phải là thiếu nền tảng lịch sử - văn hóa, mà là làm sao chuyển hóa nền tảng sẵn có đó thành nguồn lực phục vụ tương lai. Trên phương diện tri thức, ông đề xuất hai bên cần chuyển từ "kết nối tri thức" sang "đồng sáng tạo tri thức" thông qua các chương trình nghiên cứu chung, hợp tác giữa các phòng thí nghiệm và dự án trong lĩnh vực mới như kinh tế số, năng lượng sạch.

Ông Vaibhav Saxena, Cố vấn pháp lý cao cấp tại Công ty Luật Quốc tế Việt Nam VILAF. 
Ảnh: Tuấn Anh

Ông nhấn mạnh, sự hiểu biết giữa nhân dân hai nước không nên chỉ hình thành qua truyền thông, mà cần được xây dựng từ trải nghiệm và tiếp xúc trực tiếp đồng thời đánh giá cao việc Việt Nam tổ chức nhiều lễ hội giới thiệu văn hóa Ấn Độ cũng như sự phổ biến của một số bộ phim Ấn Độ tại Việt Nam như những bước đi tích cực. Khép lại phần bình luận, ông khẳng định, chính người dân mới là chủ thể nắm giữ chìa khóa để duy trì và phát triển quan hệ Việt Nam - Ấn Độ một cách thường xuyên, thực chất và lâu dài.

Phiên 3 khép lại chuỗi 3 phiên chuyên đề của Hội thảo với một thông điệp nhất quán, nếu hai phiên trước cho thấy hội tụ chiến lược và dư địa kinh tế là nền tảng "cứng" của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, thì văn hóa, tri thức và con người đặc biệt là thế hệ trẻ chính là phần "mềm" giữ cho nền tảng đó bền vững qua nhiều thế hệ.

Đồng Thị Thùy Linh - Nguyễn Thị Hiên 

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ

Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

VIỆN NGHIÊN CỨU NAM Á, TÂY Á VÀ CHÂU PHI

Địa chỉ: Tầng 12-13, 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Điện thoại: 84.4.3762 5684 - Fax: 84.4.38326653

Email: web.isawaas@gmail.com

Bản quyền thuộc về Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi

Website được thiết kế bởi VNPT