image banner
Kinh tế Halal trong kỷ nguyên mới: Hàm ý chiến lược đối với Việt Nam

Kinh tế Halal toàn cầu đang tăng trưởng khoảng 5% mỗi năm và hướng tới quy mô 10 nghìn tỷ USD năm 2028. Trước dư địa rộng mở đó, Việt Nam đã có bước chuyển mạnh mẽ trong cách tiếp cận. Từ vị thế “thị trường ngách” mang tính thử nghiệm, Halal đã trở thành chiến lược góp phần đa dạng hóa không gian phát triển kinh tế đối ngoại.

Tiềm năng thị trường Halal

Halal không còn là tiêu chuẩn tôn giáo thuần túy, mà đã trở thành một mô hình kinh tế toàn cầu, biểu trưng cho đức tin, chất lượng và tính bền vững của sản phẩm. Nếu trước đây Halal thường được hiểu như một “tấm vé thông hành” cho hàng hóa vào các thị trường Hồi giáo, thì hiện nay qua thông điệp của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị Halal toàn quốc năm 2024 – Halal được coi là hệ tiêu chuẩn toàn diện về chất lượng, an toàn và đạo đức đã mở ra cho doanh nghiệp một lối đi mới.

Anh-tin-bai

Nguồn:https://baochinhphu.vn/halal-se-la-cau-noi-moi-dong-luc-moi-trong-hop-tac-thuong-mai-dau-tu-102250919162450704.htm

Thị trường Halal đang chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng trung bình 5,2% mỗi năm và dự kiến đạt quy mô 10 nghìn tỷ USD vào năm 2028 (Cognitive Market Research, 2024). Là một cường quốc nông nghiệp, Việt Nam có tiềm năng lớn để thâm nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng thực phẩm Halal. Hiện nay, xuất khẩu Halal của Việt Nam chủ yếu tập trung vào nông sản và nguyên liệu thô, đồng thời ngày càng nhiều doanh nghiệp đang tìm kiếm chứng nhận Halal để tiếp cận các thị trường trong Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC). Với vị trí trong top 20 nhà xuất khẩu thực phẩm và top 15 nhà xuất khẩu nông sản toàn cầu, được củng cố bởi 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), Việt Nam là một ứng cử viên mạnh mẽ trong chuỗi cung ứng Halal toàn cầu (Rohman, 2025). Đối với khu vực, thị trường Halal của Việt Nam được đánh giá ổn định, với phân khúc thực phẩm chiếm ưu thế (hơn 70%) và thịt gia cầm là những thành phần chính do các chuẩn mực ăn uống tôn giáo và mức tiêu thụ trung bình 21,1 kg/người vào năm 2025 (Yurii Ovsiannykov, 2025).

PGS, TS Đinh Công Hoàng, Trưởng phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á (Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi) cho rằng: “Tiềm năng thị trường rất lớn, nhưng để biến cơ hội thành lợi thế cạnh tranh thật sự, cần một cách tiếp cận đồng bộ và dài hạn. Trong đó, nông nghiệp và thực phẩm là trụ cột then chốt khi nhiều quốc gia Hồi giáo, nhất là Trung Đông, phụ thuộc lớn vào nguồn cung bên ngoài để bảo đảm an ninh lương thực. Halal không thể phát triển manh mún, mà phải được đặt trong một hệ sinh thái hoàn chỉnh, từ sản xuất, tiêu chuẩn, chứng nhận, nguồn nhân lực đến truyền thông, hạ tầng dịch vụ và điều phối chính sách ở tầm quốc gia. Đây không chỉ là câu chuyện mở thêm một thị trường xuất khẩu, mà là bước đi chiến lược để Việt Nam tham gia sâu hơn, bền vững hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu”.

Anh-tin-bai

Nguồn:https://hcct.edu.vn/trien-vong-phat-trien-du-lich-gan-voi-halal-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi/

Bên cạnh đó, du lịch thân thiện với người Hồi giáo được xem là một hình thức “xuất khẩu tại chỗ” đầy triển vọng. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho biết dân số Hồi giáo dự kiến tăng từ 2,12 tỷ (năm 2024) lên 2,47 tỷ (năm 2034), chiếm 50% mức tăng dân số toàn cầu nên đây sẽ là nguồn khách dồi dào và bền vững (Cục Du lịch Quốc gia, 2025). PGS,TS Đinh Công Hoàng cho biết: “người Hồi giáo rất thích đi du lịch và là nhóm có chi phí ở mức cao trên thế giới. Do vậy, các quốc gia luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho nhóm khách này. Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi về thiên nhiên, lịch sử, văn hóa thu hút du khách Halal. Riêng Thủ đô Hà Nội với vị trí là trung tâm kinh tế, văn hóa và du lịch, có rất nhiều lợi thế để đón đầu dòng khách Hồi giáo”. Nguyên nhân là do Hà Nội là nơi duy nhất tại Việt Nam có Thánh đường Hồi giáo Al-Noor, biểu tượng kết nối cộng đồng Hồi giáo với đời sống văn hóa bản địa. Đặc biệt, các cơ sở lưu trú cao cấp như khách sạn Intercontinental Landmark72, JW Marriott, Melia Hanoi... đã triển khai phục vụ suất ăn Halal theo yêu cầu. Một số nhà hàng như Khazaana, D’Lion cũng là lựa chọn quen thuộc của du khách Hồi giáo.

Các chuyên gia cho rằng Halal đang mở lối đi sang dược phẩm, hóa mỹ phẩm thiên nhiên, thời trang kín đáo và nhiều ngành công nghiệp tiêu dùng khác của Việt Nam. Trong cách nhìn này, chứng chỉ Halal không chỉ là giấy thông hành, mà là nền móng để tạo dựng uy tín, khiến thị trường Halal trở thành khu vực đầy tiềm năng.

Những “nút thắt” cần tháo gỡ

Thứ nhất, khoảng cách về nhận thức. Nhận định về thị trường Việt Nam, PGS. TS Đinh Công Hoàng đã phát biểu trong Tọa đàm “Phát triển du lịch Halal tại Hà Nội – Việt Nam” cho rằng: “Việt Nam đang có cơ hội tuyệt vời để xây dựng một môi trường Halal toàn diện. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất vẫn là nhận thức và xây dựng thương hiệu. Nhiều sản phẩm tiềm năng như gạo, hạt điều, gia vị, cà-phê và thủy sản đã có sẵn trong nước nhưng chưa thể tiếp cận đầy đủ thị trường của 57 quốc gia Hồi giáo”. Trong bối cảnh đó, việc định hướng tiếp cận từ cấp độ vi mô, hỗ trợ doanh nghiệp hiểu và bắt đầu đúng quy trình Halal là rất cần thiết. Về dài hạn, khi thương mại Halal tiếp tục mở rộng, Việt Nam cần chủ động hơn trong việc kết nối doanh nghiệp, giới nghiên cứu và các tổ chức ngành nghề nhằm đổi mới sáng tạo, áp dụng thông lệ tốt nhất phù hợp với các nguyên tắc Halal. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Phước Minh, nguyên Viện trưởng Nghiên cứu châu Phi-Trung Đông (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nhận định: “Thị trường Halal vẫn là “cánh cửa mở mà nhiều doanh nghiệp chưa dám bước vào”. Chi phí chứng nhận và tái cấu trúc quy trình sản xuất là rào cản đầu tiên, trong khi lợi ích kinh tế chưa hiện hữu ngay khiến doanh nghiệp do dự. Bên cạnh đó là tâm lý ngại thay đổi cùng những hạn chế về nhận thức khi Halal vẫn còn bị nhìn qua lăng kính định kiến, thiếu thông tin”.

Thứ hai, sự phân mảnh về tiêu chuẩn. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng, Giám đốc marketing Văn phòng Chứng nhận Halal - HCA Việt Nam cho rằng: "Tình trạng thiếu các trung tâm trung chuyển Halal trong nước khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó trong việc kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng – từ nguyên liệu, chế biến, đến lưu kho đông lạnh khi xuất khẩu nông sản, thuỷ sản sang thị trường Trung Đông". Việt Nam hiện vẫn chưa có nhiều tổ chức chứng nhận Halal được công nhận rộng rãi ở cấp độ quốc tế. Hoạt động cấp chứng nhận Halal trong nước còn mang tính phân tán, thiếu sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan và đơn vị liên quan, gây ra không ít trở ngại cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận các thị trường xuất khẩu Halal, nhất là ở khâu xác minh chứng nhận, kiểm định chất lượng và vận hành logistics chuyên biệt theo yêu cầu nghiêm ngặt của các quốc gia Hồi giáo. Đầu tư nghiêm túc vào lĩnh vực Halal là điều cần thiết nếu Việt Nam muốn tăng cường hợp tác và giao thương với các quốc gia Hồi giáo. Để chào đón du khách Hồi giáo, chúng ta phải chủ động đáp ứng các nhu cầu của họ, từ cung cấp thực phẩm phù hợp với giáo luật đến tạo điều kiện thuận lợi để cầu nguyện. Trong lĩnh vực xuất khẩu, để thực phẩm Halal Việt Nam có thể tạo dựng chỗ đứng vững chắc, điều cốt lõi là xây dựng uy tín thương hiệu, đồng thời thể hiện sự tôn trọng và thấu hiểu giá trị tôn giáo gắn liền với sản phẩm.

Thứ ba, cạnh tranh gay gắt. Về mặt địa lý, thị trường phân hóa không đồng đều: Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chiếm 50,2% doanh thu toàn cầu nhờ quá trình đô thị hóa và hệ thống chứng nhận ở Indonesia và Malaysia (ReportLinker, 2025). Trong khi Trung Đông và Châu Phi tạo ra nhu cầu nhập khẩu, và các quốc gia không theo đạo Hồi (ví dụ: Brazil, Úc) cung cấp khoảng 85% lượng thịt halal xuất khẩu sang các thành viên OIC, riêng Brazil dẫn đầu thế giới với hơn 40% thị phần, đạt 4,7 tỷ USD, Úc đạt 1,6 tỷ USD (Nguyen The Hung, 2025). Việt Nam phải đối đầu trực tiếp với các “ông lớn” đã có hệ sinh thái Halal hoàn chỉnh như Malaysia, Indonesia và Thái Lan. Malaysia và Indonesia đã xây dựng được các định chế Halal uy tín hàng đầu thế giới như JAKIM (Malaysia) và MUI (Indonesia) (Sari, 2024). Các quốc gia này không chỉ có quy định khắt khe mà còn có các khu công nghiệp chuyên biệt và trung tâm logistics Halal để tối ưu hóa chi phí và niềm tin. Dù kỳ vọng lớn nhưng thương hiệu Việt Nam tại các thị trường Hồi giáo vẫn còn khá mờ nhạt, nhiều sản phẩm phải “đi nhờ” nhãn mác nước khác mới tiếp cận được người tiêu dùng. Bên cạnh đó, Việt Nam còn phải đối mặt với sự cạnh tranh của nhiều quốc gia đã có kinh nghiệm và uy tín trong việc xuất khẩu các sản phẩm Halal. Chẳng hạn như mặt hàng thủy sản, đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết trên thị trường Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE), tôm Việt Nam phải cạnh tranh với tôm Ấn Độ, Trung Quốc, Ecuador. Trong đó, tôm Ấn Độ chiếm gần 60% -70% thị phần, Ecuador mới thâm nhập thị trường vài năm gần đây với 15% thị phần, trong khi tôm Việt Nam chỉ chiếm khoảng 5%-7% thị phần (Huyền Vy, 2024).

Chiến lược kép: Số hóa và Liên kết chuỗi giá trị

Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành một quốc gia xuất khẩu Halal tiêu biểu, các chuyên gia đề xuất một số chiến lược kép:

Thứ nhất, Chuyển đổi số và minh bạch hóa: Áp dụng công nghệ Blockchain để truy xuất nguồn gốc và quản lý chứng nhận Halal theo thời gian thực. Điều này không chỉ giúp cắt giảm chi phí giao dịch mà còn xây dựng niềm tin tuyệt đối với người tiêu dùng quốc tế. Việc áp dụng blockchain cung cấp một hồ sơ giao dịch bất biến và minh bạch, cho phép xác minh tình trạng tuân thủ tiêu chuẩn, từ đó giúp giảm thiểu các tranh chấp thương mại và sự chậm trễ trong khâu kiểm soát. Những giải pháp kỹ thuật số này không chỉ giúp cắt giảm chi phí giao dịch và vận hành thông qua các quy trình xử lý lô hàng kỹ thuật số, mà còn giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) vượt qua rào cản về chi phí và kỹ thuật để tiếp cận thị trường. Thực tế cho thấy, kênh thương mại điện tử cho sản phẩm Halal đang bùng nổ mạnh mẽ, dự kiến sẽ tăng từ mức 0,3 nghìn tỷ USD năm 2024 lên đến 1,5 nghìn tỷ USD vào năm 2034, đòi hỏi khả năng truy xuất nguồn gốc kỹ thuật số ngày càng cao. Đối với Việt Nam, chiến lược thúc đẩy chuyển đổi số và thương mại điện tử được xem là "ngọn đuốc" dẫn dắt để xây dựng một hệ sinh thái Halal đồng bộ, giúp các doanh nghiệp nội địa nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định uy tín trên bản đồ kinh tế Hồi giáo thế giới.

Thứ hai, Hợp tác quốc tế và nâng tầm thương hiệu. Việc tham gia sâu vào các sáng kiến của ASEAN và tận dụng các hiệp định thương mại tự do như RCEP, CPTPP hay EVFTA là cơ hội để Việt Nam thúc đẩy việc hài hòa hóa các tiêu chuẩn Halal. Cần chủ động, xem xét hình thành liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp các nước có ngành công nghiệp Halal phát triển; trong đó có Indonesia, Malaysia hay UAE. Điều này là vô cùng quan trọng, không chỉ góp phần nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp về tiêu chuẩn Halal mà còn gia tăng cơ hội xuất khẩu, hình thành chuỗi cung ứng khép kín từ vùng cung ứng nguyên liệu, sản xuất đến nơi phân phối và xuất khẩu theo tiêu chuẩn Halal. Ngoài ra, sự dẫn dắt của Nhà nước thông qua các chương trình xúc tiến chuyên biệt và đẩy mạnh ngoại giao kinh tế đóng vai trò quyết định để "thắp sáng" con đường cho doanh nghiệp.

 

Tài liệu tham khảo

1. Cognitive Market Research. (2024). Halal market report. https://www.cognitivemarketresearch.com/regional-analysis/asia-pacific-halal-food-market-report.

2. Nguyen The Hung (2025). The Development of the Halal Product Market in Vietnam: An Exploratory Study. Global Journal of Applied sciences and technology.

3. ReportLinker. (2025). Halal Food Industry 2025. https://www.reportlinker.com/market-report/FoodPolicy/475357/Halal-Food?term=halal%20food%20statistics.

4. Rohman, I. K. et al. (Eds.). (2025). Proceedings of the International Conference on Strategic and Global Studies (ICSGS 2024). Atlantis Highlights in Social Sciences, Education and Humanities, (33). https://doi.org/10.2991/978-94-6463-646-8_16.

5. Sari, D. M., Noviarita, H., & Fasa, M. I. (2024). Strategy for increasing halal products and halal certification of food products in increasing the competitiveness of the Indonesian halal industry. Reslaj: Religion Education Social Laa Roiba Journal, 6(3), 2471–2480. https://doi.org/10.47467/reslaj.v6i3.6232.

6. Yurii Ovsiannykov (2025). Analysis of Global Halal Product Market Development Trends: Socio-Cultural and Economic Dimensions. European Journal of Interdisciplinary Issues. Vol.2, No.2. ISSN: 3071-9658.

7. Cục du lịch quốc gia (2025). Du lịch Hà Nội tìm cách khai thác thị trường Halal Việt Nam. Bộ Văn hóa thể thao, https://vietnamtourism.gov.vn/post/63216.

8. Huyền Vy (2024). Xuất khẩu sản phẩm Halal vào các nước hồi giáo: Thị trường tiềm năng nhưng đầy thách thức. https://vneconomy.vn/xuat-khau-san-pham-halal-vao-cac-nuoc-hoi-giao-thi-truong-tiem-nang-nhung-day-thach-thuc.htm.

PGS.TS Đinh Công Hoàng

NCS. Nguyễn Thu Trang

Phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á

 

 

VIỆN NGHIÊN CỨU NAM Á, TÂY Á VÀ CHÂU PHI

Địa chỉ: Tầng 12-13, 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Điện thoại: 84.4.3762 5684 - Fax: 84.4.38326653

Email: web.isawaas@gmail.com

Bản quyền thuộc về Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi

Website được thiết kế bởi VNPT