image banner
Hội thảo khoa học: Các biện pháp phi thuế quan đối với hàng xuất khẩu vào thị trường Ấn Độ
Sáng ngày 18/3/2026, tại trụ sở 176 Thái Hà, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi (ISAWAAS) đã tổ chức Hội thảo khoa học “Các biện pháp phi thuế quan đối với hàng xuất khẩu vào thị trường Ấn Độ” thuộc khuôn khổ thực hiện Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ 2025-2026: “Các chính sách thuế quan của Ấn Độ: Cơ hội và thách thức cho Việt Nam”, mã số KHXH/NV/2025-114 do TS. Đồng Thị Thùy Linh làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi tổ chức chủ trì.
Anh-tin-bai
TS. Đồng Thị Thùy Linh phát biểu đề dẫn hội thảo

 

Sự kiện được tổ chức theo hình thức trực tuyến và trực tiếp, với sự tham gia của các chuyên gia, diễn giả, cán bộ trong và ngoài Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi.

Sau phần phát biểu khai mạc của TS. Phan Cao Nhật Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi, và phát biểu đề dẫn của TS. Đồng Thị Thùy Linh, hội thảo đã lắng nghe 04 tham luận với các nội dung:

(i) Tham luận 1: Tổng quan về Quan hệ thương mại và rào cản thương mại giữa Việt Nam và Ấn Độ. Người trình bày: TS. Tôn Sinh Thành, Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ, Giảng viên cao cấp Học viện Ngoại giao.

TS. Tôn Sinh Thành chỉ ra rằng quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam – Ấn Độ thời gian qua tăng trưởng tích cực, phản ánh mức độ gắn kết ngày càng cao giữa hai nền kinh tế. Ấn Độ hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tại Nam Á, đồng thời nằm trong nhóm 10 đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Tuy vậy, thương mại song phương vẫn gặp nhiều trở ngại do các rào cản thương mại từ phía Ấn Độ. Nước này duy trì mức độ bảo hộ cao với hệ thống thuế quan và đặc biệt là các biện pháp phi thuế quan như tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch động thực vật, thủ tục cấp phép phức tạp và chính sách ưu tiên hàng nội địa. Những rào cản này gây khó khăn lớn cho doanh nghiệp Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực nông sản, thực phẩm, gỗ, dệt may và hàng tiêu dùng.

(ii) Tham luận 2: Các biện pháp phi thuế quan của Ấn Độ áp dụng cho hàng hóa của Việt Nam. Người trình bày: Ông Bùi Trung Thướng, Tham tán thương mại, Trưởng thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ (trực tuyến).

Bài trình bày của Ông Bùi Trung Thướng cập nhật về tình hình thực tế các biện pháp phi thuế quan đang áp dụng của Ấn Độ cho hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là cho hàng hóa Việt Nam. Ông còn chỉ ra các vấn đề khó khăn trong tháo gỡ các rào cản này từ thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ cũng như các cơ quan liên quan. Bên cạnh đó là các quy định mới, tư duy bảo hộ của Ấn Độ. Đồng thời, ông Thướng còn chia sẻ một số biện pháp sắp tới triển khai.

(iii) Tham luận 3: Một số khía cạnh về thuế quan của Ấn Độ: cơ hội và thách thức cho Việt Nam. Người trình bày: Ông Nguyễn Tuấn Quang, Nguyên Tham tán Thương mại Việt Nam tại Ấn Độ.

Bài tham luận tập trung phân tích chính sách thương mại của Ấn Độ như một mô hình bảo hộ cao, kết hợp giữa thuế quan lớn và các rào cản phi thuế quan phức tạp. Ấn Độ duy trì mức thuế nhập khẩu cao, đặc biệt với nông sản, đồng thời áp dụng nhiều biện pháp như giấy phép không tự động, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch và kiểm soát chất lượng khắt khe, làm gia tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp xuất khẩu. Trong khuôn khổ AITIGA, Ấn Độ lo ngại thâm hụt thương mại với ASEAN và nguy cơ hàng hóa nước thứ ba lợi dụng quy tắc xuất xứ để vào thị trường này, nên có xu hướng siết chặt kiểm soát. Với Việt Nam, đây vừa là thách thức do rào cản thương mại cao và cạnh tranh gia tăng, vừa là cơ hội nhờ quy mô thị trường lớn của Ấn Độ. Vì vậy, Việt Nam cần nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và chủ động thích ứng chính sách.

(iv) Tham luận 4: Các biện pháp phi thuế quan của Ấn Độ: Nghiên cứu trường hợp xuất khẩu gỗ của Việt Nam vào thị trường Ấn Độ. Người trình bày: ThS. Nguyễn Trung Đức, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi.

ThS. Nguyễn Trung Đức nhấn mạnh tiềm năng tăng trưởng nhanh của thị trường này dù quy mô còn khiêm tốn. Sau giai đoạn suy giảm vì COVID-19, kim ngạch xuất khẩu đã phục hồi mạnh, chủ yếu nhờ các sản phẩm gỗ công nghiệp như ván ép, ván dán. Tuy nhiên, cơ hội đi kèm thách thức lớn từ hệ thống rào cản phi thuế quan của Ấn Độ, đặc biệt là cấp phép nhập khẩu, hạn ngạch, tiêu chuẩn kỹ thuật và chứng nhận bắt buộc của BIS. Xu hướng siết chặt Quality Control Orders khiến doanh nghiệp Việt Nam tăng chi phí tuân thủ, chậm giao hàng, giảm sức cạnh tranh và đối mặt nguy cơ điều tra phòng vệ thương mại. Trước thực trạng đó, tác giả đề xuất Việt Nam cần tăng hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin, chứng nhận, cảnh báo sớm và đối thoại chính sách; đồng thời doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng, chuẩn hóa sản phẩm và đa dạng hóa thị trường để thích ứng lâu dài.

Tại phần trao đổi thảo luận, PGS.TS. Nguyễn Bích Ngọc - Phó Viện trưởng Viện Thương mại và KTQT, Đại học Kinh tế quốc dân, cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia thương mại quốc tế không chỉ gặp khó vì các biện pháp phi thuế quan (NTMs) ngày càng phức tạp, mà còn vì khó tiếp cận và hiểu đầy đủ các quy định này. NTMs ở nhiều thị trường lớn thường bao gồm nhiều yêu cầu như tiêu chuẩn kỹ thuật, SPS, cấp phép, kiểm tra chất lượng, truy xuất nguồn gốc và các thủ tục hành chính khác, nhưng lại thiếu minh bạch, thiếu nhất quán và thay đổi nhanh. Điều này khiến doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài, khó theo dõi và cập nhật kịp thời. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế về tài chính, nhân sự và năng lực pháp lý – kỹ thuật làm cho việc phân tích, diễn giải và đáp ứng các yêu cầu NTMs càng khó hơn. Hệ quả là doanh nghiệp dễ hiểu sai quy định, dẫn đến hàng hóa bị chậm thông quan, bị từ chối nhập khẩu hoặc phát sinh thêm chi phí. Bên cạnh đó, cơ sở kiểm định trong nước cũng chưa đáp ứng đủ nhu cầu.

TS. Đinh Mạnh Tuấn - Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu châu Âu và châu Mỹ, nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trước các biện pháp phi thuế quan ngày càng gia tăng tại thị trường Ấn Độ. Tuy nhiên, ông cho rằng để đề tài có giá trị ứng dụng cao hơn, các giải pháp cần được cụ thể hóa rõ ràng hơn thay vì chỉ dừng ở định hướng chung. Cụ thể, cần lượng hóa giải pháp theo từng nhóm rào cản; xác định rõ cơ chế thực thi, cơ quan chủ trì và vai trò của doanh nghiệp; bổ sung các công cụ hỗ trợ thiết thực như hệ thống cảnh báo sớm, cơ sở dữ liệu về NTMs và mô hình tư vấn tuân thủ; gắn giải pháp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời xây dựng lộ trình triển khai và tiêu chí đánh giá hiệu quả. Nhìn chung, ông nhấn mạnh rằng chỉ khi các khuyến nghị được thiết kế theo hướng cụ thể, khả thi và có thể triển khai trong thực tế thì mới thực sự hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường Ấn Độ.

Hội thảo đã kết thúc thành công tốt đẹp vào lúc 11h30 cùng ngày.

Một số hình ảnh tại hội thảo:

Anh-tin-bai
Anh-tin-bai
Anh-tin-bai
 

Triệu Hồng Quang

Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ (VCASI)

VIỆN NGHIÊN CỨU NAM Á, TÂY Á VÀ CHÂU PHI

Địa chỉ: Tầng 12-13, 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Điện thoại: 84.4.3762 5684 - Fax: 84.4.38326653

Email: web.isawaas@gmail.com

Bản quyền thuộc về Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi

Website được thiết kế bởi VNPT