Hội thảo Khoa học Quốc tế “Đổi mới sáng tạo, Hội nhập và Phát triển bền vững” chủ đề năm 2026: “Kinh tế Halal: Động lực của phát triển bền vững”
Sáng ngày 22/4/2026, tại Hội trường Hồng Hà, số 1 Liễu Giai, Hà Nội, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi (ISAWAAS) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) phối hợp với Trường Đại học Thương mại và Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường (IESE) thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (HCMA) đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Đổi mới sáng tạo, hội nhập và phát triển bền vững” (CIISD lần 2) với chủ đề 2026 “Kinh tế Halal: Động lực của phát triển bền vững”.
Hội thảo có sự tham dự của GS.TS. Lê Văn Lợi, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi; PGS.TS. Bùi Văn Huyền, Viện trưởng Viện Kinh tế xã hội và Môi trường; PGS.TS. Hà Văn Sự, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại cùng đại diện lãnh đạo các viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và đông đảo nhà khoa học trong và ngoài nước.
Đặc biệt, hội thảo có sự tham dự của các đại sứ các quốc gia Hồi giáo tại Việt Nam: Ông Saddi Salama, Trưởng đại diện phái đoàn ngoại giao tại Việt Nam, Đại sứ Palestine tại Việt Nam; Ông Adam Mulawarman Tugio, Đại sứ Cộng hòa Indonesia tại Việt Nam; Ông Korhan Kemik, Đại sứ Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ tại Việt Nam; Ông Thamer M. Algosaibi, Đại sứ Vương quốc Saudi Arabia tại Việt Nam; Ngài Mohammad Lutfor Rahman, Đại sứ Cộng hòa Nhân dân Bangladesh tại Việt Nam, Ông Ahmed Ait Aissa, Phó Đại sứ Vương quốc Ma-rốc tại Việt Nam; TS. Ghazi Altopy, Đại biện Cộng hòa Iraq tại Việt Nam; và một số quan chức, nhà ngoại giao, các chuyên gia đến từ Indonesia, Qatar, Azerbaijan, Pakistan, Malaysia và các quốc gia khác, cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn của cộng đồng quốc tế đối với phát triển kinh tế Halal tại Việt Nam.
Phát biểu khai mạc hội thảo, GS.TS. Lê Văn Lợi nhấn mạnh rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, kinh tế Halal đang nổi lên như một lĩnh vực liên ngành quan trọng, gắn với các tiêu chuẩn về chất lượng, đạo đức và phát triển bền vững. Hội thảo được kỳ vọng sẽ góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ hoạch định chính sách và thúc đẩy hội nhập quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực này.
GS.TS. Lê Văn Lợi, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo
Trong phát biểu chào mừng, Đại sứ Indonesia Adam Mulawarman Tugio nhấn mạnh một thách thức lớn của kinh tế Halal hiện nay là sự phân mảnh về tiêu chuẩn và chính sách giữa các quốc gia. Ông đồng thời lưu ý xu hướng ngày càng gia tăng sự tham gia của các quốc gia không phải Hồi giáo vào thị trường này, trong đó có Thái Lan và Việt Nam. Từ góc nhìn đó, Đại sứ cho rằng Halal không nên chỉ được xem như một dấu hiệu chứng nhận mang tính hình thức, mà cần được tiếp cận như một lợi thế cạnh tranh chiến lược, gắn với công nghệ, tài chính xanh và khả năng mở rộng thị trường. Ông cũng đánh giá cao những bước đi ban đầu của Việt Nam trong xây dựng chiến lược Halal, hoàn thiện cơ chế chứng nhận và phát huy các lợi thế về nông nghiệp, môi trường và quản trị để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị Halal toàn cầu.
Đại sứ Indonesia Adam Mulawarman Tugio
Trong khi đó, Đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ Korhan Kemik tiếp cận vấn đề từ góc độ chuẩn mực và thể chế. Ông nhấn mạnh Halal ngày nay cần được hiểu như một hệ giá trị bao gồm đạo đức, tính minh bạch, an toàn, sức khỏe và sự toàn vẹn của sản phẩm trong toàn bộ chuỗi cung ứng “từ trang trại đến bàn ăn”. Đại sứ đặc biệt nhấn mạnh sự tương thích giữa các nguyên tắc Halal với các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm của Thổ Nhĩ Kỳ trong xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận Halal tương đối hoàn chỉnh. Từ kinh nghiệm đó, ông cho rằng việc thúc đẩy cơ chế công nhận lẫn nhau giữa các quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm giảm chi phí, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và tăng cường kết nối thị trường.
Đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ Korhan Kemik
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận đối với Halal, từ việc coi đây là một tiêu chuẩn sản phẩm sang nhận thức Halal như một hệ sinh thái kinh tế – văn hóa – xã hội, có vai trò quan trọng trong ngoại giao kinh tế và xây dựng niềm tin giữa các nền văn minh.
PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng phát biểu khai mạc hội thảo
Trong Báo cáo đề dẫn, PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung làm rõ rằng kinh tế Halal đang chuyển từ khuôn khổ tuân thủ tôn giáo sang một hệ sinh thái kinh tế toàn diện với các tiêu chuẩn cao về chất lượng, minh bạch và trách nhiệm xã hội, có sự tương thích ngày càng rõ nét với các mục tiêu phát triển bền vững. Báo cáo cũng nhấn mạnh đây là cơ hội quan trọng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời cho biết hội thảo đã thu hút hơn 150 tham luận, phản ánh đa dạng các hướng tiếp cận nghiên cứu hiện nay.
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung phát biểu đề dẫn
Trong khuôn khổ “Phiên 1: Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp phát triển kinh tế Halal bền vững trong bối cảnh mới”, dưới sự điều hành của PGS.TS. Bùi Văn Huyền, Viện trưởng Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), và PGS.TS. Hà Văn Sự, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại, các tham luận đã tập trung làm rõ bức tranh phát triển của kinh tế Halal trên thế giới, đồng thời gợi mở nhiều định hướng chính sách và thực tiễn cho Việt Nam.
Phát biểu theo hình thức trực tuyến, GS. Warsito, Thứ trưởng phụ trách tăng cường bản sắc và đặc trưng dân tộc, Bộ Điều phối Phát triển Nguồn nhân lực và Văn hóa, Cộng hòa Indonesia, nhấn mạnh rằng kinh tế Halal ngày nay không còn đơn thuần là sự tuân thủ tôn giáo mà đã trở thành một “nền kinh tế của niềm tin”, gắn với chất lượng, an toàn và tiêu dùng có đạo đức. Ông cho biết quy mô nền kinh tế Halal toàn cầu được dự báo tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới, trong đó thực phẩm và đồ uống Halal là một trong những lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất. Từ kinh nghiệm Indonesia, GS. Warsito cho rằng phát triển Halal cần được đặt trong chiến lược quốc gia, với sự kết hợp giữa hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ quan chứng nhận đủ mạnh, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và phát triển các khu công nghiệp Halal, đồng thời tăng cường hợp tác khu vực, nhất là trong ASEAN.
GS. Warsito, trình bày online
Trong tham luận của mình, PGS.TS. Đinh Công Hoàng, Trưởng phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi, nhấn mạnh yêu cầu phải chuyển nhận thức về Halal thành hành động chính sách và hành động thị trường cụ thể. Phó Giáo sư cho rằng Halal không chỉ là khái niệm “được phép” mà là một hệ sinh thái giá trị dựa trên công bằng, trung thực, trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Từ góc nhìn của Việt Nam, ông phân tích Halal có thể trở thành một “bộ lọc chất lượng cao” đối với nông sản và thủy sản, qua đó vừa nâng chuẩn sản xuất, vừa mở rộng khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Ông đồng thời đề xuất cần sớm hoàn thiện thể chế, xây dựng hệ thống chứng nhận Halal quốc gia có tính quốc tế, phát triển thương hiệu Halal Việt Nam, hình thành các quỹ hỗ trợ và từng bước xây dựng các trung tâm, khu công nghiệp Halal gắn với logistics và ngoại giao kinh tế.
PGS.TS. Đinh Công Hoàng trình bày tham luận
Ở góc độ tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp, TS. Khairil Anwar Razali, Tư vấn trưởng, QES Management Consultants Sdn.Bhd., Malaysia, nhấn mạnh tiềm năng rất lớn của thị trường Halal trong mối quan hệ với phát triển bền vững. Theo ông, nếu đặt kinh tế Halal trong tổng thể các hoạt động kinh tế xanh và bền vững, đây là một không gian thị trường có giá trị rất lớn, trong đó ngay cả việc tham gia với tỷ trọng nhỏ cũng có thể tạo ra giá trị kinh tế đáng kể. Ông cho rằng sản phẩm Halal ngày nay không chỉ dành cho người Hồi giáo mà đang được nhiều nhóm người tiêu dùng lựa chọn do gắn với tiêu chuẩn cao về chất lượng và đạo đức. Từ kinh nghiệm hợp tác với Indonesia và Việt Nam, ông chia sẻ các nội dung hỗ trợ thiết thực đối với doanh nghiệp như tổ chức sản xuất, xây dựng chuỗi cung ứng, bố trí nhân lực, lập kế hoạch kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ tham gia vào hệ sinh thái Halal.
TS. Khairil Anwar Razali trình bày tham luận
Với tham luận TS. Vũ Thị Yến, Phó Trưởng khoa kinh tế, Trường Đại học Thương mại, tiếp cận vấn đề từ góc độ học thuật và bản đồ tri thức toàn cầu. Trên cơ sở phân tích thư mục từ dữ liệu Scopus, bà cho thấy nghiên cứu về kinh tế Halal gắn với phát triển bền vững đã gia tăng mạnh trong những năm gần đây, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á, trong đó Malaysia và Indonesia nổi lên như những trung tâm tri thức chủ đạo. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tài chính Hồi giáo hiện vẫn là trụ cột trung tâm trong việc tích hợp các nguyên tắc phát triển bền vững vào hệ sinh thái Halal, trong khi các lĩnh vực như chuỗi cung ứng, quản trị công nghiệp Halal hay tích hợp tiêu chí ESG vẫn còn dư địa rất lớn để tiếp tục phát triển trong thời gian tới.
TS. Vũ Thị Yến, trình bày tham luận
Trong tham luận ông Ramlan bin Osman, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Halal Quốc gia (HALCERT), nhấn mạnh rằng sự phát triển của Halal tại Việt Nam thời gian qua gắn liền với quá trình nâng cao nhận thức và từng bước xây dựng thể chế, trong đó có sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức. Ông cho biết HALCERT đã tổ chức nhiều hoạt động phổ biến kiến thức, đào tạo và hỗ trợ tại nhiều địa phương, góp phần thúc đẩy sự hình thành các dịch vụ thân thiện với người Hồi giáo tại Việt Nam. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng nếu Halal chỉ được tiếp cận từ góc độ cơ hội kinh tế mà thiếu nền tảng hiểu biết tôn giáo, tính toàn vẹn kỹ thuật và sự nghiêm minh trong quản lý thì niềm tin của người tiêu dùng sẽ bị tổn hại. Tại hội thảo, ông cũng giới thiệu Nghị định số 127/2026/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal, dự kiến có hiệu lực từ ngày 01/6/2026, như một bước tiến quan trọng trong hoàn thiện khung pháp lý cho lĩnh vực này tại Việt Nam.
Ông Ramlan bin Osman, trình bày tham luận
Tham luận của PGS.TS. Đinh Thị Nga, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, phân tích trường hợp Trung Quốc như một mô hình đáng chú ý của một quốc gia không phải đa số Hồi giáo nhưng đã hình thành được hệ sinh thái Halal tương đối năng động. Bà cho rằng thành công tương đối của Trung Quốc đến từ sự kết hợp giữa vai trò của nhà nước, năng lực sản xuất, logistics, các nền tảng thương mại quốc tế và cơ chế hỗ trợ địa phương. Tuy vậy, mô hình này cũng bộc lộ không ít hạn chế như sự phân mảnh trong tiêu chuẩn chứng nhận và những thách thức về tính công nhận quốc tế. Từ đó, bà gợi mở rằng Việt Nam cần xây dựng một khung thể chế thống nhất hơn, tăng cường năng lực chứng nhận được quốc tế thừa nhận và phát triển các trung tâm Halal gắn với logistics, xuất khẩu và kết nối thị trường.
PGS.TS. Đinh Thị Nga, trình bày tham luận
Trong phần thảo luận sau Phiên 1, PGS.TS. Nguyễn Chiến Thắng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho biết ông đã theo dõi quá trình đưa Halal vào nghiên cứu tại Viện Hàn lâm từ những giai đoạn đầu và đánh giá cao những kết quả bước đầu đã đạt được. Ông cho rằng triển vọng phát triển kinh tế Halal tại Việt Nam là tích cực, song cũng đặt ra vấn đề rất thực tiễn về những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải khi tiếp cận các thị trường chưa có hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là chi phí, rào cản thị trường và khả năng cạnh tranh. Từ đó, ông đề nghị các doanh nghiệp trao đổi thêm về những khó khăn cụ thể trong quá trình mở rộng sang các thị trường tiềm năng nhưng chưa có nhiều ưu đãi sẵn có.
PGS.TS. Nguyễn Chiến Thắng, đặt câu hỏi cho hội thảo
Trao đổi từ góc độ doanh nghiệp, bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Hợp tác xã Hà Nội Xanh, cho biết đơn vị đã tham gia phát triển thị trường Halal gần bốn năm và xác định đây là thị trường cốt lõi để từ đó mở rộng ra các thị trường khác. Bà cho rằng trong lĩnh vực này, khó khăn cũng chính là cơ hội, bởi điều tạo nên sức cạnh tranh lâu dài không chỉ là sản phẩm mà còn là niềm tin, tính minh bạch, đạo đức kinh doanh và định hướng phát triển bền vững. Bà đồng thời chia sẻ kế hoạch ra mắt một trung tâm trải nghiệm và sàn thương mại điện tử riêng cho Halal, hướng tới việc xây dựng một không gian xúc tiến chung cho các doanh nghiệp Halal Việt Nam.
Chia sẻ thông tin từ bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Hợp tác xã Hà Nội Xanh
Bà Bùi Thị Hương – Chủ tịch Tập đoàn Helen Solar – Đại diện doanh nghiệp nước yến Khánh Hòa Helen chia sẻ rằng quá trình đạt được chứng nhận Halal đối với các sản phẩm có thành phần phức hợp là một hành trình rất khó khăn, nhưng khi đã đạt được, chứng nhận Halal thực sự trở thành “vé thông hành” để tiếp cận các thị trường quốc tế. Doanh nghiệp cho biết hiện nay khó khăn lớn không chỉ nằm ở chứng nhận mà còn ở việc thiếu các kênh kết nối thị trường, vì vậy rất mong có thêm sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý, tổ chức chuyên môn và các đại sứ quán trong việc kết nối với đối tác và thị trường tiêu thụ.
Chia sẻ thông tin từ Bà Bùi Thị Hương – Chủ tịch Tập đoàn Helen Solar
Phát biểu kết lại phần thảo luận, PGS.TS. Hà Văn Sự, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại, cho rằng một sản phẩm có chất lượng chưa chắc đã đạt tiêu chuẩn Halal, nhưng một sản phẩm đã đạt tiêu chuẩn Halal thì chắc chắn phải là một sản phẩm tốt. Theo ông, trong bối cảnh nhu cầu thị trường còn rất lớn trong khi nguồn cung còn hạn chế, Halal vẫn là một lĩnh vực còn nhiều dư địa phát triển và là không gian thị trường đầy tiềm năng đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Tiếp nối chương trình, hội thảo bước sang “Phiên 2: Xây dựng thương hiệu Halal và tiếp cận thị trường Halal bền vững: Vai trò của Nhà nước, Nhà nghiên cứu và Nhà doanh nghiệp”, do PGS.TS. Đinh Công Hoàng, Trưởng phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi điều phối. Ở phiên này, các diễn giả tập trung thảo luận các vấn đề mang tính thực tiễn trong triển khai hệ sinh thái Halal tại Việt Nam, đặc biệt là câu chuyện thương hiệu, tiêu chuẩn, thị trường và niềm tin.
PGS.TS. Đinh Công Hoàng, điều phối Phiên thứ hai của hội thảo
Trong tham luận của mình, bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Hợp tác xã Hà Nội Xanh – đơn vị có mỹ phẩm Halal nhấn mạnh rằng phát triển sản phẩm Halal không dừng lại ở việc đạt chứng nhận ban đầu mà đòi hỏi phải quản trị toàn bộ chuỗi cung ứng theo các tiêu chuẩn Halal một cách liên tục và nhất quán. Theo bà, tính minh bạch trong toàn bộ quá trình sản xuất – từ nguyên liệu, chế biến đến phân phối – là yêu cầu cốt lõi, đồng thời thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp chính là việc duy trì tiêu chuẩn qua các kỳ đánh giá định kỳ. Bà cũng chia sẻ khó khăn khi doanh nghiệp Việt Nam phải xin nhiều chứng nhận khác nhau để tiếp cận các thị trường quốc tế, làm gia tăng chi phí và kéo dài thời gian, qua đó cho thấy nhu cầu cấp thiết về cơ chế công nhận lẫn nhau giữa các hệ thống chứng nhận Halal.
Từ góc độ doanh nghiệp dịch vụ, ông Mahmood Ur Rehman Janjua, Giám đốc Chuỗi nhà hàng Nan n Kabab, cho rằng ẩm thực Việt Nam có tiềm năng rất lớn để phát triển theo tiêu chuẩn Halal nếu được chuẩn hóa đúng cách. Ông đánh giá nhiều nguyên liệu và món ăn Việt Nam hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu Halal và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, ông cũng chia sẻ rằng quá trình đạt được chứng nhận Halal đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm và dịch vụ ăn uống là không đơn giản, đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc về quy trình, nguyên liệu và kiểm soát chất lượng. Từ thực tiễn này, ông đề xuất cần tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình tiếp cận chứng nhận và xây dựng thương hiệu thực phẩm Halal Việt Nam.
Ông Mahmood Ur Rehman Janjua, Giám đốc Chuỗi nhà hàng Nan n Kabab
Ở góc độ tiêu chuẩn và quản trị hệ thống, ông Miêu Abbas, Giám đốc Halal Vietnam (HCA) nhấn mạnh rằng Halal trước hết là vấn đề của niềm tin. Ông cho rằng mọi chứng nhận Halal đều phải tuân thủ nguyên tắc nghiêm ngặt, không có sự thỏa hiệp, bởi chỉ cần một mắt xích trong chuỗi giá trị không đảm bảo thì toàn bộ sản phẩm không thể được công nhận là Halal. Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch, có kiểm định độc lập và có cơ sở pháp lý rõ ràng. Theo ông, Việt Nam có lợi thế là một nền kinh tế linh hoạt nhưng để chuyển hóa lợi thế này thành năng lực cạnh tranh thực sự thì cần một quá trình đầu tư bài bản và lâu dài, trong đó niềm tin là yếu tố cốt lõi.
Ông Miêu Abbas, Giám đốc Halal Vietnam (HCA)
Trong khi đó, TS. Aemin Nasir, Giảng viên Đại học RMIT Hà Nội, tiếp cận Halal từ một góc nhìn mới khi coi đây như một “ngôn ngữ” của nền kinh tế toàn cầu. Tiến sỹ cho rằng Halal không nên chỉ được hiểu dưới góc độ tôn giáo hay chứng nhận mà cần được nhìn nhận như một hệ thống tri thức và chuẩn mực đang ngày càng phổ biến trong thương mại quốc tế. Bà đặc biệt nhấn mạnh vai trò của công nghệ trong việc xây dựng hệ sinh thái Halal, bao gồm trí tuệ nhân tạo, blockchain và các hệ thống truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, Bà cũng lưu ý rằng công nghệ không thể thay thế hoàn toàn yếu tố con người, đặc biệt là năng lực nhận thức và đánh giá. Từ góc độ đào tạo, Bà đề xuất cần tăng cường vai trò của các trường đại học trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho nền kinh tế Halal, đồng thời mở rộng việc phổ biến kiến thức Halal như một phần của giáo dục kinh tế toàn cầu.
TS. Aemin Nasir, Giảng viên Đại học RMIT Hà Nội
Phát biểu bế mạc hội thảo, PGS.TS. Bùi Văn Huyền, Viện trưởng Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trân trọng cảm ơn sự hiện diện và những đóng góp sâu sắc của các đại sứ, nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Ông khẳng định, với nội dung phong phú, cách tiếp cận đa chiều và sự tham gia tích cực của các bên liên quan, hội thảo đã góp phần làm rõ hơn vai trò của kinh tế Halal như một cấu phần quan trọng trong hệ sinh thái phát triển bền vững, đồng thời mở ra nhiều hướng tiếp cận mới về chính sách, nghiên cứu và thực tiễn triển khai tại Việt Nam.
Từ các tham luận và thảo luận tại hai phiên làm việc, có thể thấy kinh tế Halal không chỉ là một thị trường tiềm năng mà còn là một không gian kết nối giữa tiêu chuẩn, niềm tin và giá trị đạo đức trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đối với Việt Nam, việc tham gia vào hệ sinh thái Halal đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, giới nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp, trong đó hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực chứng nhận, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường hợp tác quốc tế là những yếu tố then chốt.
PGS.TS. Bùi Văn Huyền phát biểu kết luận hội thảo
Kết thúc hội thảo, Ban Tổ chức bày tỏ kỳ vọng trong thời gian tới sẽ tiếp tục có thêm nhiều diễn đàn khoa học và hợp tác thực tiễn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế Halal tại Việt Nam, góp phần mở rộng không gian hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
BTC Hội thảo trao kỷ niệm chương cho các đơn vị đồng hành
Tổng hợp và đưa tin: ThS. Hồ Diệu Huyền
Phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á